Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2018 có một số điểm nhấn, tuy thấp hơn quý I (7,45%), nhưng cao so với cùng kỳ trong nhiều năm trước. Điều này tạo kỳ vọng để cả năm nay tiếp tục đạt kết quả kép: Vừa cao hơn năm trước (6,81%), vừa cao hơn mục tiêu đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội (6,5 – 6,7%).

Tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng
Xét về góc độ nhóm ngành, tăng trưởng đạt được ở cả 3 nhóm ngành. Nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản tuy gặp khó khăn về vốn đầu tư và tiêu thụ nhưng đã có sự cải thiện về cơ cấu sản xuất… nên tăng trưởng tiếp tục phục hồi và đạt cao nhất từ năm 2011 đến nay. Nhóm ngành công nghiệp – xây dựng vừa tăng cao hơn tốc độ của cùng kỳ, vừa cao hơn nhiều so với tốc độ chung, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng trưởng khá cao (12,65%); nhóm ngành dịch vụ tiếp tục tăng khá, cùng với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục trở thành động lực và đầu tàu tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, đúng với định hướng là mũi nhọn của toàn bộ nền kinh tế mà Chính phủ xác định.
Xét về góc độ sử dụng GDP, trong 9 tháng năm nay, tăng trưởng GDP đạt được ở cả 3 bộ phận chủ yếu là tiêu dùng cuối cùng, tích lũy tài sản và xuất siêu. Tiêu dùng cuối cùng thể hiện chủ yếu ở tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (TMBL).
TMBL tăng cao hơn, ngoài các yếu tố như dân số tăng (khoảng 1%), mức tiêu dùng bình quân đầu người cao hơn và quan trọng hơn là tỷ lệ tiêu dùng thông qua mua bán trên thị trường cao hơn, còn có yếu tố số lượng người nước ngoài đến Việt Nam đạt kỷ lục mới (11.616,5 nghìn lượt người) và tăng rất cao (22,9%).
Phần chênh lệch giữa sản xuất và sử dụng trong nước về GDP là do xuất siêu (hàng hóa xuất siêu 5.393 triệu USD, dịch vụ nhập siêu 2.679 triệu USD), tính ra cả hàng hóa và dịch vụ đã xuất siêu 2.714 triệu USD.
Xét về góc độ chất lượng tăng trưởng, 9 tháng năm nay đã có sự chuyển dịch bước đầu theo hướng tích cực. Về hiệu quả đầu tư, suất đầu tư tăng trưởng thấp hơn cùng kỳ năm trước (4,87 lần so với 5,15 lần), tức là hiệu quả đầu tư cao hơn. Số lượng lao động đang làm việc tiếp tục tăng thấp, trong khi tăng GDP cao hơn, nên tốc độ tăng năng suất lao động đạt cao hơn cùng kỳ (khoảng 6,4% so với 5,7%).

Vẫn còn thách thức

Bên cạnh những điểm nhấn có tính vượt trội trên, tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm nay cũng còn những hạn chế và đứng trước những thách thức không nhỏ nên chưa thể chủ quan thỏa mãn.
Tăng trưởng 9 tháng năm nay cao có một phần do số gốc so sánh là 9 tháng đầu năm trước tăng thấp (tức là quy mô tuyệt đối còn thấp). Quý IV/2017 tăng khá cao (tức là quy mô tuyệt đối là số gốc so sánh cao lên), nên việc tăng cao trong quý IV khó đạt cao hơn như cùng kỳ những năm trước. Nếu năm trước đà tăng trưởng cao lên qua các quý thì năm nay có thể chậm lại qua các quý. Phải chăng do vậy mà Bộ KH&ĐT đưa ra kịch bản tăng trưởng của cả năm cũng chỉ 6,7 – 6,8%, thấp hơn cả quý I và dự kiến 2019 cũng không cao hơn 2018.
Xét về các yếu tố cơ bản cũng có một số điểm đáng lưu ý. Đơn cử, tăng trưởng của nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản sẽ gặp khó khăn hơn khi thực hiện Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP (TPP-11), khi nhập khẩu với thuế suất thấp từ các nước thành viên. Tăng trưởng của nhóm ngành công nghiệp – xây dựng có đến trên dưới 50% là do khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện.
Xuất khẩu tăng cao có phần lớn (trên 70%) do khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp, nhưng cũng tăng chậm lại. Tuy cả nước xuất siêu, nhưng khu vực kinh tế trong nước vẫn nhập siêu lớn; nhập siêu từ Trung Quốc giảm nhưng vẫn lớn, trong khi nhập siêu từ Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia, Malaysia… tăng.
Xuất khẩu sang Mỹ và một số thị trường tăng chậm lại. So với nhiều nước, hiệu quả đầu tư và mức năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn thấp… Đáng lưu ý, khi Việt Nam có độ mở lớn sẽ bị ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại giữa 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới, cũng là 2 thị trường xuất/nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Ngoài ra, giá USD đã tăng so với đồng tiền của nhiều nước là thị trường xuất/nhập khẩu lớn của Việt Nam.